Bạn đã bao giờ rơi vào cảnh vừa gặp chuyện không may, lại có thêm chuyện không may khác ập đến chưa?

Người Hàn có hẳn một thành ngữ rất hình tượng để diễn tả điều này: 설상가상.

설상가상 (雪上加霜) là một thành ngữ Hán Hàn có nghĩa đen là tuyết lại chồng thêm lên sương giá.

Từ này được ghép từ các chữ Hán:

설 (雪), âm Hán Việt là Tuyết: Tuyết.

상 (上), âm Hán Việt là Thượng: Trên, ở trên.

가 (加), âm Hán Việt là Gia: Thêm vào, chồng thêm.

상 (霜), âm Hán Việt là Sương: Sương giá.

Đọc theo âm Hán Việt, cả cụm 雪上加霜 (설상가상) chính là Tuyết Thượng Gia Sương.

Ý nghĩa mở rộng của thành ngữ này dùng để chỉ tình huống một khó khăn, rắc rối chưa qua thì lại có thêm một tai họa khác ập đến, khiến hoàn cảnh càng thêm tồi tệ.

Trong tiếng Việt, thành ngữ tương đương sát nghĩa nhất chính là họa vô đơn chí (điều tai họa không bao giờ đến một mình). Ngoài ra, người Việt cũng hay dùng những cách nói dân gian gần nghĩa như đã nghèo lại mắc cái eo hay tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa để diễn tả cùng một trạng huống.

Người Hàn cũng có một câu tục ngữ thuần Hàn mang ý nghĩa tương tự là 엎친 데 덮친 격 (đã ngã lại còn bị đè lên), thường được dùng thay thế cho nhau trong giao tiếp hằng ngày.

Ví dụ, khi đi làm muộn vì ngủ quên, lại gặp thêm cảnh kẹt xe, người Hàn sẽ nói: 늦잠을 자서 택시를 탔는데 설상가상으로 차까지 막혀 결국 지각했다 (Vì ngủ quên nên phải bắt taxi, ai ngờ họa vô đơn chí, xe lại còn kẹt cứng, cuối cùng đi trễ).

Hay khi vừa làm mất ví, trời lại đổ mưa: 지갑을 잃어버려서 속상한데 설상가상으로 비까지 쏟아지기 시작했다 (Làm mất ví đã đủ buồn, họa vô đơn chí, trời còn bắt đầu đổ mưa).

Mình luôn thấy thú vị khi một hình ảnh thiên nhiên tưởng chừng đơn giản như tuyết và sương giá, lại được người Hàn khéo léo dùng để nói về những khoảnh khắc chồng chất khó khăn trong đời sống. Có lẽ vì sống ở một đất nước bốn mùa rõ rệt, người Hàn quan sát thiên nhiên rất tinh tế và đưa nó vào ngôn ngữ một cách tự nhiên đến vậy.

Lần tới nếu chẳng may gặp chuyện không may này nối tiếp chuyện không may khác, bạn có thể nhớ đến từ 설상가상 để miêu tả đúng tâm trạng của mình đấy.